Trang chủ  |  Tin tức & sự kiện  |  Thủ tục - biểu mẫu  |  Liên hệ
Tìm kiếm
Dịch Vụ Tranh Tụng Dịch Vụ Tư Vấn Dịch Vụ Pháp Lý Hỏi Đáp Pháp Luật Trao Đổi Khoa Học Nghiệp Vụ Tranh Tụng
Quốc Tịch
Hộ Tịch
Ghi Chú Hộ Tịch
Cư Trú
Hộ Chiếu Và Thị Thực (Visa)
Phương Tiện Đi Lại
Pháp Lý Nhà Đất
Đăng Ký Kinh Doanh
Tin Công Ty Tin Chuyên Ngành Tin Tuyển Dụng Luật Sư Thích Đùa
Lời Giới Thiệu
Bộ Luật Hình Sự Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Bộ Luật Dân Sự Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Luật Hôn Nhân Gia Đình Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Luật Xây Dựng Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Luật Đất Đai
Luật Tố Tụng Hành Chính Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Bộ Luật Lao Động Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Luật Doanh Nghiệp Và Các Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành
Văn Bản Hướng Dẫn Về Thừa Phát Lại
Luật Luật Sư Và Quy Tắc Đạo Đức Nghề Luật Sư
Pháp Luật Về Thuế Và Các Văn Bản Hướng Dẫn
Luật Và Các Văn Bản Hướng Dẫn Khác
luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn
 ::  Các Thông tư và Thông tư liên tịch

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO-VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

 

Số: 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Hà Nội , ngày 25 tháng 12 năm 2000


THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

Hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, khi bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đã chết, thì việc giải quyết vụ án trong thời gian qua không được thống nhất. Để thi hành đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, khi bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn một số điểm sau đây:

I. VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, nếu bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đã chết, thì theo quy định tại các Điều 220 và 223 Chương XXIII "Xét xử phúc thẩm" của Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án cấp phúc thẩm vẫn phải mở phiên toà phúc thẩm xét xử vụ án. Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm phải theo đúng quy định tại Điều 216 và những người tham gia phiên toà phúc thẩm (trừ bị cáo đã chết) phải theo đúng quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự. Kết thúc việc xét xử, Toà án cấp phúc thẩm phải ra bản án phúc thẩm.

II. VỀ NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI TRANH LUẬN VÀ NỘI DUNG QUYẾT ĐỊNH TRONG BẢN ÁN PHÚC THẨM

Để nội dung đề nghị của Viện Kiểm sát khi tranh luận và nội dung quyết định trong bản án phúc thẩm được đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cần phân biệt như sau:

1. Nội dung đề nghị của Viện Kiểm sát khi tranh luận và nội dung quyết định trong bản án phúc thẩm liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

a. Trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội, nhưng bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng bị cáo có phạm tội, thì cần phân biệt như sau:

a.1. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy kháng cáo, kháng nghị là không có căn cứ và việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội là đúng, mặc dù bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 1 Điều 220 Bộ luật tố tụng hình sự bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội.

a.2. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy kháng cáo, kháng nghị là có căn cứ và việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội là không đúng, nhưng vì bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 220, điểm 7 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án về phần hình sự đối với bị cáo đã chết.

b. Trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội, nhưng bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, thì cần phân biệt như sau:

b.1. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội là không đúng, mặc dù bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 220, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ quyết định của bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án về phần hình sự đối với bị cáo đã chết.

b.2. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội là đúng, nhưng do bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 220, điểm 7 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ quyết định của bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về hình sự đối với bị cáo đã chết.

c. Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về phần hình sự đối với bị cáo đã chết, thì quyết định của bản án sơ thẩm bị huỷ bao gồm:

- Quyết định về hình phạt chính và hình phạt bổ sung;

- Quyết định về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản;

- Quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

2. Nội dung đề nghị của Viện Kiểm sát khi tranh luận và nội dung quyết định trong bản án phúc thẩm liên quan đến các biện pháp tư pháp, kê biên tài sản đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

a. Quyết định liên quan đến việc tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm:

a.1. Nếu do tuyên bố bị cáo phạm tội mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, nhưng tại phiên toà phúc thẩm xét thấy quyết định của bản án sơ thẩm về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là không đúng, thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định này của bản án sơ thẩm về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trừ quyết định về tịch thu vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị hoặc không sử dụng được.

a.2. Nếu do tuyên bố bị cáo phạm tội mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định tịch thu, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và tại phiên toà phúc thẩm xét thấy quyết định của bản án sơ thẩm về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là đúng, thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định này của bản án sơ thẩm về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.

b. Quyết định liên quan đến trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại.

b.1. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy bị cáo không phạm tội; do đó, xét thấy quyết định của bản án sơ thẩm về trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là không đúng (vì bị cáo không có trách nhiệm phải trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại), thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định này của bản án sơ thẩm về trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại.

Ví dụ 1: A bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 3 tháng tù về tội "cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn về phòng vệ chính đáng" và buộc A phải bồi thường cho B (người bị gây thương tích) số tiền 5 triệu đồng do sức khoẻ bị xâm phạm. A kháng cáo kêu oan nhưng đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy A gây thương tích cho B là thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng, thì ngoài việc áp dụng điểm 4 Điều 220, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ quyết định của bản án sơ thẩm, tuyên bố A không phạm tội "cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" và đình chỉ vụ án về phần hình sự đối với A, Viện Kiểm sát đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại này.

Ví dụ 2: X bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 6 tháng tù về tội "trộm cắp tài sản" và buộc X phải trả cho Y (người có tài sản bị chiếm đoạt) giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3 triệu đồng. X kháng cáo kêu oan, nhưng đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy không có căn cứ để kết án X phạm tội trộm cắp tài sản (của Y), thì ngoài việc áp dụng điểm 4 Điều 220, điểm 2 Điều 89, và Điều 223 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ quyết định của bản án sơ thẩm, tuyên bố X không phạm tội "trộm cắp tài sản" và đình chỉ vụ án về phần hình sự đối với X, Viện kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về phần trả lại giá trị tài sản này.

b.2. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy bị cáo không phạm tội, nhưng xét thấy quyết định của bản án sơ thẩm về trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là đúng và không bị kháng cáo, kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm không xét quyết định này của bản án sơ thẩm về việc trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, có nghĩa là quyết định này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành; nếu quyết định này của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, thì Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 69 và điểm a khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án về phần trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại này, đồng thời uỷ thác cho Toà án cấp sơ thẩm xác minh xem có người thừa kế tham gia tố tụng hay không. Nếu kết quả xác minh cho thấy có người thừa kế tham gia tố tụng, thì Toà án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm (vì lý do của việc tạm đình chỉ không còn nữa) về phần trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại. Nếu kết quả xác minh cho thấy không có người thừa kế tham gia tố tụng, thì Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 69 và điểm 1 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án về phần trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại này.

Ví dụ: C bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 6 tháng tù về tội "huỷ hoại tài sản" và buộc C phải bồi thường cho D (người có tài sản bị huỷ hoại) số tiền 400 ngàn đồng. Viện Kiểm sát nhân dân kháng nghị theo hướng C không có tội mà không kháng nghị đối với quyết định về bồi thường thiệt hại. C đã bị chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu xét thấy C có hành vi huỷ hoại tài sản của D với giá trị tài sản là 400 ngàn đồng, nhưng không gây hậu quả nghiêm trọng và C cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, chưa bị kết án về tội này, có nghĩa là C không phạm tội "huỷ hoại tài sản" nhưng quyết định của bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại là đúng và không bị kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 220, điểm 2 Điều 89 và Điều 223 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ quyết định của bản án sơ thẩm, tuyên bố C không phạm tội "huỷ hoại tài sản" và đình chỉ vụ án về phần hình sự đối với C mà không xét quyết định này của bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại, có nghĩa là quyết định này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành; nếu quyết định này của bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo, kháng nghị (cho rằng giá trị tài sản bị huỷ hoại không phải 400 ngàn đồng mà thấp hơn), nhưng vì lý do C đã chết mà chưa có người thừa kế tham gia tố tụng, thì ngoài việc quyết định về phần hình sự như hướng dẫn trên đây, Viện Kiểm sát đề nghị và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 69, điểm a khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án về phần bồi thường thiệt hại này, đồng thời uỷ thác cho Toà án cấp sơ thẩm xác minh có người thừa kế tham gia tố tụng hay không. Nếu kết quả xác minh cho thấy có người thừa kế tham gia tố tụng, thì Toà án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm (vì lý do của việc tạm đình chỉ không còn nữa) về phần bồi thường thiệt hại này. Nếu kết quả xác minh cho thấy không có người thừa kế tham gia tố tụng, thì Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điểm 4 Điều 69 và điểm 1 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án về phần bồi thường thiệt hại này.

b.3. Tại phiên Toà phúc thẩm, nếu xét thấy việc Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội là đúng và quyết định của bản án sơ thẩm về trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là đúng và không bị kháng cáo, kháng nghị, thì Toà án cấp phúc thẩm không xét quyết định này của bản án sơ thẩm về trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, có nghĩa là quyết định này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành; nếu quyết định này của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, thì việc giải quyết vụ án về phần trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại được tiến hành như hướng dẫn tại điểm b2 Mục 2 Thông tư này.

c. Quyết định liên quan đến kê biên tài sản để bảo đảm thi hành việc bồi thường thiệt hại.

c.1. Trong trường hợp quyết định của bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị Toà án cấp phúc thẩm tuyên huỷ, thì quyết định của bản án sơ thẩm về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành quyết định về bồi thường thiệt hại này đương nhiên bị huỷ bỏ.

c.2. Trong trường hợp quyết định của bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại đối với bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm mà Toà án cấp phúc thẩm không xét hoặc trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án về phần trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, thì quyết định của bản án sơ thẩm về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành việc trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại vẫn có hiệu lực thi hành; nếu xét thấy việc kê biên tài sản này là không cần thiết nữa, thì Toà án cấp phúc thẩm quyết định huỷ quyết định của bản án sơ thẩm về kê biên tài sản này.

III. VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA THÔNG TƯ

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 1 năm 2001 và thay thế các văn bản trước đây của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi bị cáo đã chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc cần được giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung, thì đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.

KT. VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN TỐI CAO

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

Trần Thu

KT. CHÁNH ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN

(Đã ký)

Trịnh Hồng Dương

VĂN BẢN KHÁC
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT
Thông Tư 70/2011/TT-BCA
Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT-BCA-BTC-BYT
Thông tư liên tịch số 05/2006/TTLT-BTP-BCA
Thông tư liên tịch số 07/2002/TTLT-BCA-BTCCBCP
Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT-BKH-BTC-BCA
Thông tu liên tịch số 05/2009/TTLT-BCA-BNG
Thông tin liên tịch số 06/2009/TTLT-BCA-BVHTTDL
Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BTTTT-BCA
DANH MỤC LUẬT SƯ
Dịch Vụ Tranh Tụng
Dịch Vụ Tư Vấn
Dịch Vụ Pháp Lý
Hỏi Đáp Pháp Luật
Trao Đổi Khoa Học Nghiệp Vụ Tranh Tụng
TIN TỨC & SỰ KIỆN
VIDEO CLIP
Clip141: Bắt "siêu xe ôm" găm súng ngắn trong người
Clip141: Học sinh cấp 3: "Em chỉ đi cướp nốt lần này"
Clip: Giang hồ mang súng đòi nợ, "đụng độ" cơ động đặc nhiệm
Clip141: Tàng trữ súng, nhảy xuống sông Kim Ngưu trốn 141
Banner Thua Phat Lai Facebook Cong Ty Luat Pham Nghiem The Gioi Dien Toan doanhnhanbienhoa vn
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Tranh Chấp Dân Sự
Pháp Luật Hình Sự
Kinh Doanh - Thương Mại
Dịch Vụ Pháp Lý Dành Cho Việt Kiều
Lao động - Tiền Lương - Bảo Hiểm Xã Hội
Pháp Luật Về Thuế
Sở Hữu Trí Tuệ
Đất Đai - Nhà Ở - Xây Dựng
Hôn Nhân Gia Đình
Tín Dụng - Ngân Hàng
Pháp Luật Đầu Tư
THỐNG KÊ
1 người đang đọc trang này
Số người đang online: 113
Lượt truy cập: 52976346
Kỷ lục có 1918 người đã online lúc:
17-09-2014 02:39

CÔNG TY LUẬT TNHH MTV PHẠM NGHIÊM
122/7 Trần Đình Xu, P. Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Tp.HCM
Tổng đài tư vấn luật: 1900 56 56 96 - 0903 342 188
Website: - Giấy phép số: 52/GP-STTTT, cấp ngày 06/07/2011
Người chịu trách nhiệm: Luật sư Phạm Công Út

Copyright © 2010 pham nghiem. All rights reserved
Designed & Developed by EMSVN