Một nhân viên có thể bắt đầu kinh doanh?

Một nhân viên có thể bắt đầu kinh doanh?

Một số công chức, viên chức hiện đang làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập và quản lý công ty ở bên ngoài. Vậy, người lao động có được đăng ký thành lập doanh nghiệp không?

Một nhân viên có thể bắt đầu kinh doanh?
Một nhân viên có thể bắt đầu kinh doanh?

1. Ai là quan chức?

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập theo hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. bên phải.

(Theo điều 2 Luật viên chức 2010)

2. Quyền của công chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài giờ quy định

– Được thực hiện các hoạt động nghề nghiệp ngoài giờ làm việc quy định trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

b) Được ủy quyền giao kết hợp đồng theo từng trường hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm, nhưng phải thực hiện nhiệm vụ được giao và được sự đồng ý của người đứng đầu cơ sở công lập. đơn vị.

– Cung cấp vốn nhưng không tham gia quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư nhân, trường học tư thục và tổ chức nghiên cứu khoa học tư nhân, trừ trường hợp trái với quy định của pháp luật chuyên ngành.

(Theo điều 14 Luật viên chức 2010)

3. Chủ thể không có quyền thành lập doanh nghiệp

Phù hợp với khoản 2 Điều 17 Luật kinh doanh 2020 Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân thành lập và kinh doanh tại Việt Nam như sau:

– Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

– Chấp hành viên, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về Chấp hành viên, công chức và pháp luật về viên chức;

– Sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ nghiệp vụ, công nhân viên quốc phòng, sĩ quan thuộc các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, công an nhân dân trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý vốn nhà nước vào kinh doanh hoặc quản lý công ty đại chúng;

– Người quản lý, điều hành công ty đại chúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Mục 88 Luật Công ty năm 2020, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại công ty khác;

– Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người mất năng lực hành vi dân sự; người khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị công an tạm giữ, chấp hành án phạt tù, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc bị truy cứu trách nhiệm tư pháp. công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản và pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Theo yêu cầu của Cơ quan đăng ký kinh doanh, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;

Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực theo quy định của Bộ luật hình sự.

Như vậy, viên chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Họ chỉ được cung cấp vốn chứ không được tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và hợp tác xã, bệnh viện tư nhân, trường học tư thục, tổ chức nghiên cứu khoa học, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

Thư viện Luật.

Trả lời