Tỷ lệ nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài có bị hạn chế không?

Tỷ lệ nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài có bị hạn chế không?

Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam thông qua hình thức mua cổ phần, mua phần vốn góp. Vậy pháp luật Việt Nam có quy định nào hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư không?

Tỷ lệ nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài có bị hạn chế không?
Có giới hạn tỷ lệ nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài không?

1. Quy định pháp luật về giới hạn nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài

Trước đây là Khoản 3 Điều 22 Luật đầu tư 2014 Nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ vốn cổ phần không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau:

– Tại các công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức sở giao dịch chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài phải tuân theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

– Đối với doanh nghiệp đại chúng cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sang hình thức sở hữu khác, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài phải phù hợp với quy định của pháp luật về cổ phần hóa, chuyển đổi doanh nghiệp đại chúng; và

– Nếu không thuộc hai trường hợp nêu trên thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài phải phù hợp với quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2020 hiện đã bãi bỏ quy định này. Theo điều 25 Luật đầu tư 2020 Quy định về hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

Nhà đầu tư có thể cung cấp vốn cho tổ chức kinh tế dưới các hình thức sau:

+ Mua cổ phiếu phát hành lần đầu hoặc cổ phiếu phát hành ngoài công ty cổ phần;

+ Cung cấp vốn cho công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh;

+ Cung cấp vốn cho các tổ chức kinh tế khác không thuộc các trường hợp trên.

Nhà đầu tư mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế dưới các hình thức sau đây:

+ Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc các cổ đông;

+ Mua phần vốn góp của thành viên hợp danh công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên hợp danh của công ty trách nhiệm hữu hạn;

+ Mua lại phần vốn góp từ thành viên góp của công ty hợp danh trở thành thành viên góp của công ty hợp danh;

+ Mua lại phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc các trường hợp trên.

2. Điều kiện nhà đầu tư nước ngoài cung cấp vốn cho công ty Việt Nam

Theo điểm a khoản 3 Điều 9 Luật đầu tư 2020 Quy định tỷ lệ nắm giữ vốn cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế là một trong những điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Như vậy, một trong những điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào công ty Việt Nam là phải tôn trọng tỷ lệ sở hữu vốn theo luật định.

Hơn nữa, phù hợp với các khoản 7, 8 và 9 Nghị định 31/2021 / NĐ-CP Quy định về nguyên tắc áp dụng hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài như sau:

– Nhà đầu tư nước ngoài tại nước hoặc vùng lãnh thổ không phải là thành viên WTO thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam được áp dụng các điều kiện tiếp cận thị trường quy định đối với nhà đầu tư ở nước hoặc vùng lãnh thổ khác có lãnh thổ là thành viên của WTO, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó;

– Nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng điều ước quốc tế có quy định về điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư này thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam thì được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường theo quy định của điều ước quốc tế này; và

– Nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng điều ước quốc tế có quy định khác về điều kiện tiếp cận thị trường được lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường đối với tất cả các ngành, nghề thương mại theo một trong các điều ước quốc tế này. Nếu nhà đầu tư đã lựa chọn áp dụng các yêu cầu tiếp cận thị trường theo điều ước quốc tế (kể cả điều ước quốc tế mới được ký kết hoặc sửa đổi, bổ sung sau ngày điều ước quốc tế đó có hiệu lực thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện các quyền của mình và thực hiện nghĩa vụ của họ phù hợp với tất cả các quy định của hiệp ước này.

Như vậy, việc tiếp cận thị trường (bao gồm cả điều kiện về tỷ lệ sở hữu) được thực hiện theo quy định của các điều ước quốc tế về đầu tư.

Theo quy định tại khoản 10 Điều 17 Nghị định 31/2021 / NĐ-CP Quy định hạn chế tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế về đầu tư được áp dụng như sau:

– Trường hợp có nhiều nhà đầu tư nước ngoài cùng góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào một tổ chức kinh tế và thuộc một hoặc nhiều điều ước quốc tế về đầu tư thì phải xác định tổng tỷ lệ sở hữu của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài. không được vượt quá tỷ lệ cao nhất do điều ước quốc tế quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong một ngành, nghề.

– Trường hợp nhiều nhà đầu tư nước ngoài từ một quốc gia, vùng lãnh thổ cùng góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế thì tổng tỷ lệ sở hữu của tất cả các nhà đầu tư đó không vượt quá tỷ lệ sở hữu quy định tại điều ước quốc tế đối với tổ chức đó. các nhà đầu tư;

– Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ tương hỗ chứng khoán hoặc quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán thì thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Như sau:

+ Đối với doanh nghiệp đại chúng, tỷ lệ nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài là 50% theo quy định tại khoản 1 Điều 139. Nghị định 155/2020 / NĐ-CP.

+ Đối với công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, tỷ lệ nắm giữ vốn của nhà đầu tư nước ngoài tối đa là 100% theo quy định tại Điều 77 Luật chứng khoán 2019.

– Trường hợp tổ chức kinh tế có nhiều thành phần kinh doanh và điều ước quốc tế có quy định khác nhau về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải như nhau. tổ chức kinh tế này không được vượt quá giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với ngành, nghề hạn chế sở hữu nước ngoài thấp nhất.

Lưu ý: Nhà đầu tư nước ngoài phải làm thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế trước khi thay đổi thành viên, cổ đông nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp làm tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế hoạt động ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài.

– Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 23 của Luật này. Luật đầu tư 2020 nắm giữ trên 50% vốn cổ phần của tổ chức kinh tế trong các trường hợp: tăng tỷ lệ nắm giữ vốn cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài từ dưới 50% lên hơn 50%; tăng tỷ lệ nắm giữ vốn cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã nắm giữ trên 50% vốn cổ phần trong tổ chức kinh tế; và

– Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các huyện, thị xã biên giới hải đảo; thành phố trực thuộc trung ương, huyện và thị xã ven biển; các lĩnh vực khác liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Thư viện Luật.

Trả lời